I. Thông tin chung:
1. Khái quát chung:
- Tên quốc gia: Nhà nước Palestine (State of Palestine)
- Thủ đô: Palestine coi Đông Jerusalem là thủ đô của Nhà nước Palestine trong tương lai.
- Ngày quốc khánh (ngày phát động đấu tranh vũ trang): 01/01/1965.
- Vị trí địa lý: Nằm ở phía đông Địa Trung Hải, trải dài Dải Gaza và Bờ Tây; có chung biên giới với Israel, Jordan, Ai Cập, Lebanon và Syria.
- Khí hậu: Do nằm ở vùng Địa Trung Hải nên khí hậu tương đối ôn hòa, mùa đông lạnh và mưa (nhiệt độ thấp nhất 7oC, cao nhất 16oC), mùa hè nóng và khô (nhiệt độ thấp nhất 15oC, cao nhất 27oC).
- Diện tích: Theo Nghị quyết 181 của LHQ (1947) lãnh thổ quốc gia Palestine là 11.100 km2 (chiếm 42,88% toàn bộ lãnh thổ Palestine). Tuy nhiên do bị chiếm đóng, Nhà nước Palestine chỉ còn kiểm soát dải Gaza và Bờ Tây sông Gioóc-đa-ni với diện tích 6.020 km2.
- Dân số: Khoảng 5 triệu người (2024) (Gaza: 2 triệu; Bờ Tây: 3 triệu)
- Dân tộc: Đa số là người Ả-rập.
- Tôn giáo: Đa số theo đạo Hồi, một số theo đạo Thiên chúa.
- Đơn vị tiền tệ: Shekel Israel (ISH), 1 USD = 3,6 ISH; Dinar Jordan (JOD), 1 JOD = 1,41 USD.
- GDP (2022): 19 tỷ USD, GDP/đầu người: (2022): 2.900 USD
- Lãnh đạo chủ chốt:
+ Tổng thống: Mahmoud Abbas (từ 01/2005).
+ Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao và Kiều dân: Mohammad Mustafa (từ 03/2024).
2. Khái quát lịch sử:
Sau chiến tranh Thế giới thứ nhất, Palestine được đặt dưới quyền ủy trị của Anh. Năm 1917, với Tuyên bố Balfour, Anh bắt đầu kế hoạch đưa người Do Thái về Palestine. Ngày 29/11/1947, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 181/II chấm dứt sự bảo hộ của Anh đối với Palestine, chia Palestine thành 2 quốc gia cho người Do Thái và người Palestine.
Tháng 5/1964, Hội đồng dân tộc Palestine (PNC) lần thứ nhất đã họp ở Đông Jerusalem tuyên bố thành lập Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO). Từ đó, PLO trở thành đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Palestine. Năm 1975, tại khóa họp 30 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, PLO đã được mời tham gia Liên hợp quốc với tư cách quan sát viên. Ngày 15/11/1988, Nhà nước Palestine tuyên bố thành lập.
Năm 1994, trên cơ sở Hiệp định Oslo ký năm 1993 giữa PLO và Nhà nước Israel, Chính quyền dân tộc Palestine (Palestinian National Authority – PNA) được thành lập. Ngày 29/11/2012, Palestine được ĐHĐ LHQ trao quy chế Nhà nước quan sát viên phi thành viên. Ngày 06/01/2013, Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas đã ra sắc lệnh chính thức đổi tên Chính quyền Palestine thành "Nhà nước Palestine."
3. Thể chế nhà nước:
- Thể chế nhà nước: Palestine theo chế độ dân chủ nghị viện. Chủ tịch (Tổng thống) Chính quyền dân tộc Palestine được bầu trực tiếp thông qua tổng tuyển cử với nhiệm kỳ 4 năm và được bầu không quá 2 nhiệm kỳ. Quốc hội gồm 132 thành viên, được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 4 năm, là cơ quan lập pháp và giám sát.
4. Chính sách đối ngoại:
Nhà nước Palestine được 153 quốc gia trên thế giới công nhận (tính đến tháng 5/2026). Ngoài ra, Palestine còn là thành viên của các tổ chức quốc tế như UNESCO, Interpol, Tổ chức Hội nghị Hồi giáo, Liên đoàn A-rập, Phong trào Không liên kết…
II. QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM
1. Quan hệ chính trị:
- Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: Việt Nam và PLO có quan hệ từ năm 1968; hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 19/11/1988.
- Thông tin về cơ quan đại diện tại mỗi nước: Đại sứ quán ta tại Ai Cập kiêm nhiệm Palestine. Năm 1976, PLO đặt cơ quan thường trú tại Hà Nội. Ngày 19/11/1988, ta công nhận Nhà nước Palestine và Bạn chuyển Văn phòng đại diện PLO tại Hà Nội thành Đại sứ quán Nhà nước Palestine.
- Khuôn khổ quan hệ: Quan hệ hữu nghị truyền thống.
- Thống kê đoàn bạn vào Việt Nam: Chủ tịch Arafat đã thăm Việt Nam 10 lần (lần cuối cùng vào 24/8/2001); Cục trưởng Cục Kinh tế PLO (1990); Cục trưởng Cục Chính trị PLO (1994); Tổng thống, Chủ tịch Chính quyền dân tộc, Chủ tịch Ban Chấp hành PLO Mahmoud Abbas (24-26/5/2010); Bộ trưởng Kinh tế quốc gia Palestine (18-22/9/2010); Bộ trưởng Bộ Nội vụ và An ninh quốc gia (12/2011); Thường trực Ban Bí thư Phong trào Fatah (2022) Bộ trưởng Bộ Nội vụ (5/2023), Tổng Thư ký PLO dự Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh (9/2025), Bộ trưởng Ngoại giao và Kiều dân (12/2025)…
- Thống kê đoàn ta thăm: Đoàn Việt Nam thăm trụ sở PLO (tại Tuy-ni-di): Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên, đặc phái viên của Chủ tịch HĐNN (1992); Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh (1994); thăm khu Bờ Tây: Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Dũng (4/2008); Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Nguyễn Mạnh Hùng dự Đại hội VI của Fatah (8/2009); Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ươngNguyễn Tuấn Phong (6/2014); Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Hoàng Bình Quân (11/2015), Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Nguyễn Phương Nga (8/2023)…
- Các cơ chế hợp tác: Bộ Ngoại giao hai nước đã tổ chức tham vấn chính trị lần thứ nhất cấp Trợ lý Bộ trưởng vào tháng 10/2016 tại Hà Nội.
2. Hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư:
Hợp tác thương mại giữa hai nước chưa triển khai được nhiều, chủ yếu thông qua Israel nên hàng hóa vào Palestine đều thông qua các công ty của Israel). Trong các năm 2021 - 2022 kim ngạch thương mại song phương ở mức dưới 50.000 USD và năm 2023 đạt gần 345.000 USD, tuy nhiên con số này không phản ánh thực thất do hàng hóa xuất khẩu sang Palestine đều thông qua các công ty Israel (do Israel kiểm soát các cửa khẩu).
3. Các lĩnh vực hợp tác khác:
3.1. Hợp tác hỗ trợ:
Việt Nam đã quyết định viện trợ nhân đạo khẩn cấp 200.000 USD cho nhân dân Palestine ở Gaza khắc phục hậu quả của cuộc tấn công quân sự của Israel vào Gaza (27/12/2008 – 20/1/2009). Ngày 29/11/2023, Việt Nam công bố viện trợ 500.000 USD để cứu trợ nhân đạo cho người Palestine ở Dải Gaza thông qua Cơ quan cứu trợ người tị nạn Palestine của Liên hợp quốc (UNRWA). Năm 2025, Việt Nam đã hỗ trợ 300.000 USD cho nhân dân Palestine thông qua Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
3.2. Hợp tác về giáo dục – đào tạo:
Bộ Công an giúp đào tạo 2 khóa cho 20 sỹ quan cảnh sát phòng chống tội phạm – ma túy cho Palestine (2012 - 2013). Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp học bổng cho sinh viên Palestine. Bộ Ngoại giao đã tổ chức Khoá bồi dưỡng kỹ năng cho 10 cán bộ Palestine (2025).
4. Cộng đồng người Việt Nam tại sở tại: Hiện không có người Việt sinh sống tại Palestine.
5. Các Hiệp định, thỏa thuận, văn bản hợp tác đã ký kết:
Hiệp định Thương mại (1994); Hiệp định khung về hợp tác Kinh tế, Văn hóa, Giáo dục, Khoa học - kỹ thuật, Thể thao và Du lịch (2010); Bản ghi nhớ hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (2010); Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Giáo dục hai nước (2010); Thỏa thuận hợp tác giữa 2 TTX; Bản ghi nhớ hợp tác giữa 2 Cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng; Bản ghi nhớ hợp tác giữa 2 Bộ Công Thương (2010); Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (11/2013), Hiệp định miễn thị thực cho người mang Hộ chiếu Ngoại giao và Hộ chiếu Công vụ (12/2025).
Hà Nội, tháng 6/2026